Quyền Năng Tha Tội

Trong một lần giáo huấn, Đức Giêsu đã quả quyết với các Tông đồ: “Sự gì các con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc. Sự gì các con cởi mở dưới đất, trên trời cũng cởi mở”(Mt 18: 18). Và hôm nay, sau ngày phục sinh, trong một lần hiện ra với họ, Chúa Giêsu đã phán: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội cho ai thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai thì tội người ấy bị cầm lại” (Gn 19:22-23). Khi nói lên lời đó, Ngài chính thức thiết lập Bí tích Giải tội, uỷ thác cho Hội thánh quyền năng tha thứ và cầm buộc. Quyền năng này không chỉ được trao ban cho các Tông đồ nhưng còn thông chuyển đến các đấng kế vị là các Giám mục và những linh mục hiệp thông với các ngài.

Qua lời tuyên bố thiết lập Bí tích Giao hoà, Chúa Giêsu muốn nói với các thừa tác viên đầu tiên và những người kế nghiệp rằng: một khi dưới đất họ đọc lên lời tha tội “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” thì lập tức trên trời Ngài sẽ chuẩn y, và dù tội con người có thẫm như máu đào cũng sẽ được biến đổi tinh trắng như bông.

Trong Tông thư Reconciliation and Penance (“Hoà Giải & Đền Tội), Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô đã khẳng định: “Khơi dậy lòng sám hối và thay đổi tâm hồn nhân thế cùng trao ban cho con người tặng phẩm giao hoà chính là sứ mạng đặc thù của Hội thánh khi tiếp nối công trình cứu độ của Đấng Sáng lập”.

Thời Giáo hội sơ khai, việc xưng tội để đón nhận ơn giao hoà với Thiên Chúa và chữa lành tâm hồn thường được các Kitô hữu chân thành thực thi, không cần đến sự thúc giục của các vị chủ chăn, dù rằng lúc ấy lắm việc đền tội kéo dài rất lâu và không kém khắt khe.

Đến thế kỷ 13, để gia tăng ơn ích thiêng liêng cho các linh hồn, Đức Giáo hoàng Innocent ra sắc lệnh buộc mọi người Công giáo đến tuổi lớn khôn phải xưng tội một năm ít là một lần.

Có người đặt vấn đề: Tại sao lại phải đi xưng tội với một linh mục? Tới thẳng với Chúa không được sao?

Đến với Chúa để tìm ơn tha thứ cho bao tội mình phạm là điều rất đúng. Nhưng đến với Ngài như thế nào là điều ta cần thi hành theo lời chỉ dẫn của Chúa Giêsu. Không lý nào Chúa lại trao quyền tha tội cho các linh mục khi chính Ngài có thể tha thứ và không cần đến họ. Thử hỏi nếu ta được trao cho chiếc chìa khoá của một căn nhà với đặc quyền mở cửa cho kẻ ra người vào. Chiếc chìa khoá và đặc quyền đó có ý nghĩa gì khi ta khám phá ra rằng ai ai cũng có một chiếc chìa khoá như vậy và họ ra vào lúc nào tuỳ ý.

Lẽ dĩ nhiên Đức Giêsu có trăm muôn ngàn cách tha thứ tội lỗi con người, nhưng phương cách Ngài “làm người” để cứu thế và “chọn con người” để thi hành quyền năng tha tội là một ý định tỏ tường. Tuy nhiên, bên cạnh ý định của Thiên Chúa cũng có đó một số lý do khiến cho việc xưng tội với một linh mục trở nên cần thiết.

Catholicism and Life (“Công Giáo & Sự Sống”) có chỉ ra những lý do như sau:

Thứ nhất, vì “có những tội được tha và có những tội bị cầm” nên hối nhân phải xưng tội mình ra thì linh lục mới có thể xác định được tội nào được tha và tội nào bị cầm.

Thứ hai, việc xưng tội với một linh mục sẽ giúp cho con người trở nên khiêm tốn. Người ta dễ chừa tội hơn khi biết rằng nếu mình phạm, mình sẽ phải xưng.

Thứ ba, chắc chắn hối nhân sẽ đón nhận được ơn thánh hoá từ bí tích Hoà giải. Nhưng trước đó, họ sẽ nhận được những lời khuyên hữu ích từ vị linh mục, giúp họ thăng tiến hơn trên đường thiêng liêng.

Thêm vào đó, có không ít khuynh hướng nhiệm nhặt hay buông thả khiến cho có người quá khắc khe, thấy điều chi cũng tội, hay có người quá lỏng lẻo đến nỗi bao tội tày trời cũng cho là chẳng có gì ghê gớm. Thậm chí có khi còn biện minh để lương tâm thấy tội nhẹ bớt hay không còn tội lỗi gì nữa. Vì vậy, nếu không có sự trợ giúp của vị linh mục làm sao người ta có thể quân bình với chính mình và chân thành với Thiên Chúa được.

Cuối cùng, khi ban ơn tha tội, vị linh mục thay mặt Chúa sẽ bảo đảm ơn tha thứ cho hối nhân. Đối với người đi “xưng thẳng” với Chúa, ai sẽ đoan quyết cho điều đó? Chắc chắn không ai hết.

Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã cảnh cáo những người cho mình không cần bí tích Giải tội như sau: “Thật là điên rồ và kiêu căng đối với những ai tự ý coi thường phương thế trao ban ơn sủng và cứu thoát mà chính Chúa Giêsu thiết lập, nhất là đối với những kẻ cho rằng không cần đến bí tích giải tội để được tha tội”.

Có nhiều người vì ý thức lệch lạc nên coi thường xưng tội, nên không còn thấy cần đi xưng tội nữa. Thậm chí có người xấu hổ ngại ngùng khi phải thú nhận tội mình với kẻ khác. G.K. Chesterton, một nhà văn trở lại Công giáo đã viết: “Không việc gì phải xấu hổ về những dại dột của mình… Đã là con người không ai không có lỗi lầm, nhưng lỗi lầm kinh khủng nhất của con người là cho mình không có lỗi”. Thánh Gioan Tông đồ viết thẳng thừng hơn: “Nếu ta nói: ta không có tội là ta tự lừa dối mình, và sự thật không có trong ta” (1 Gn 1:8). Trái lại, “Nếu ta xưng thú tội lỗi mình thì Người trung tín và công chính đủ để tha thứ tội lỗi cho ta, và tẩy ta khỏi mọi bất chính”(1 Gn 1:9). Một điều luôn gắn liền với Bí tích Giải tội là “ấn toà” mà tất cả mọi linh mục phải tuân giữ. Không một điều gì nghe trong toà mà cha giải tội lại được phép nói ra cho người thứ ba, dù tính mạng của mình bị đe doạ hay an ninh quốc gia được bảo toàn.

Lịch sử Giáo hội ghi nhận biết bao hình ảnh hào hùng của những con người dám lấy máu đào bảo vệ đức tin, trong đó có hình ảnh của những linh mục dám lấy mạng sống bảo vệ “ấn toà giải tội”.

Cha Gioan Nepomucene là mẫu gương tiêu biểu trong thế kỷ 14. Ngài là cha giải tội của Hoàng hậu Jane, nước Bohemia. Vua Wenceslaus là người đa nghi và ghen tuông. Vì muốn biết Hoàng hậu đã làm điều chi thầm lén nên nhà vua yêu cầu cha Gioan thuật lại những gì nàng xưng ra với ngài.

Tưởng rằng quyền lực và uy thế của mình có thể khui được ít nhiều bí mật nơi miệng cha Gioan, nhưng vua đã lầm. Vị linh mục của Chúa nhất quyết không hé lộ bất cứ điều gì. Kết quả, ngài bị nhốt vào hầm tối. Và một đêm kia, bị nhận nước cho đến chết.

Ba trăm năm sau, khi khai quật lăng mộ cha Gioan, những người hữu trách đã ngỡ ngàng chứng kiến thân thể ngài mục nát hoàn toàn, ngoại trừ chiếc lưỡi vẫn nguyên vẹn như lúc còn sống. Ngày nay, trên chỗ ngài bị giết người ta dựng lên một tượng đài, phía dưới chân có khắc dòng chữ: “Nơi đây vị chứng nhân của Ấn toà Giải tội đã nằm xuống”.

Gần đây nhất là biến cố cha Demoulin, người pháp, bị kết tội giết người vào năm 1899 và phải ở tù chung thân. Số là ông quản nhà thờ đã gây nên án mạng rồi dấu vũ khí trong phòng cha. Để bịt miệng ngài, ông xin xưng tội và thú nhận phạm tội giết người. Thế rồi, vì không thể tiết lộ danh tánh phạm nhân, nên cuối cùng cha Demoulin bị toà kết án chung thân khổ sai.

Sau 25 năm, thân thể cha Demoulin tàn tạ theo thời gian và sự khốn cực lao tù. Ông quản ngày nào đang hấp hối trên giường bệnh và tha thiết xin gặp một linh mục. Thế rồi trước khi nhắm mắt lìa đời, ông đã kịp xưng thú với mọi người về tội sát nhân năm xưa, đồng thời xin ơn tha thứ qua bí tích giải tội mà ông đã lợi dụng để đưa một linh mục vô tội vào tù (x. Catholicism and Life).

Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã trao ban cho các Tông đồ món quà vô giá là Chúa Thánh Thần và quyền năng tha tội. Sứ mạng của các ngài và những người kế vị là làm nảy sinh hoa trái cho toàn nhân loại. Biết khiêm tốn mở lòng đón nhận ơn tha thứ, con người sẽ tìm thấy bình an và sự sống đích thực, dù thần chết có đang hăm he rình chờ. Biết tìm đến cùng toà cáo giải, tâm hồn sẽ được chữa lành và ngập tràn hân hoan.

Lm Phêrô Bùi Quang Tuấn, CSsR

Dòng Chúa Cứu Thế Hải Ngoại - Vietnamese Redemptorist Mission
3417 W. Little York Road, Houston, Texas 77091; Tel: (713) 681-5144; E-mail: dccthaingoai@gmail.com